CHƯƠNG 1: ĐOÀN KIỂM KÊ HẠ LƯU

Click để thay đổi cỡ chữ!

Nước rút đêm về dưới bến sông,

Đèn dầu cháy thẳng trong căn phòng,

Đồ còn đổ bóng trên nền gạch,

Người đứng bên đèn bóng lại không.

---

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám, vào quãng cuối mùa nước nổi, con nước đã rút bớt nhưng lòng Vàm Nao vẫn còn sâu và còn dữ. Giữa ngã ba sông, nơi nước hai dòng đổ vào nhau rồi xoáy thành vực, có một chiếc sà lan nạo vét neo lại suốt đêm. Máy nổ ì ì không dứt. Ngọn đèn măng-sông treo trên cần cẩu rọi thẳng một luồng sáng trắng xuống mặt nước đen.

Đêm đó không trăng. Trên sà lan có một tổ nạo vét. Mấy người đàn ông cởi trần, da đen nhẫy mồ hôi lẫn dầu máy. Người kéo cáp, người canh cẩu, người ngồi vắt vẻo trên be hút thuốc rê chờ tới phiên mình. Đèn rọi xuống nước rồi hắt ngược lên, soi rõ từng cái bóng đổ dài trên sàn sắt. Bóng cây cẩu chĩa ra. Bóng cuộn cáp. Bóng cái nón cời treo lủng lẳng bên vách ca-bin. Mặt nước ngay dưới luồng đèn phẳng lì, trắng bệch một khoảng. Trong khoảng sáng đó, người ta thấy rõ đáy gàu, thấy rõ thành sà lan in xuống, thấy rõ cây cẩu in xuống. Chỉ có bóng mấy người đang đứng kéo cáp ngay mép nước là không thấy.

Không ai để ý. Đêm nạo vét, mắt người chỉ dán vào sợi cáp đang căng và cái gàu đang chìm.

Mấy lượt đầu, gàu kéo lên chỉ toàn bùn với rác. Có lần móc trúng một khúc gỗ mục. Có lần lôi lên một cái mâm nhôm méo, rồi người ta lại liệng trả xuống sông. Tới gần nửa đêm, sợi cáp bỗng khựng lại. Máy rống lên một tiếng. Cả sà lan nghiêng hẳn về một bên. Tổ trưởng quát kéo từ từ. Cáp nhả ra, siết vào, rồi cái gàu trồi lên khỏi mặt nước. Trong gàu có một thứ gì đó.

Thứ này nhỏ. Tròn tròn, cỡ trái dừa khô, bám đầy bùn đen với hà, nhìn không ra hình thù gì. Một người trong tổ thò tay vào gàu nhấc nó ra. Anh ta nhấc hụt một cái, tay tuột, suýt để nó rớt trở lại trong gàu. Cái thứ nhỏ xíu đó trì xuống nặng trịch, nặng hơn cả cục đồng hay hòn đá cùng cỡ. Anh ta phải chụm cả hai tay, gồng lưng mới bưng được nó qua be sà lan, đi từng bước ngắn. Một người đứng gần buột miệng, nhỏ xíu vầy mà nặng gì nặng dữ. Người bưng không đáp, nghiến răng, đặt vội nó xuống sàn sắt cho khỏi rớt vào chân.

Tổ trưởng lấy đèn pin rọi, lấy tay quẹt thử lớp bùn, rồi thôi. Vài câu trao đổi cụt ngủn lọt qua tiếng máy nổ. Đồng nát. Nặng vầy cân được mấy ký. Đêm nay có mối tới lấy không. Có. Vậy cân.

Một người trong tổ, lúc cúi xuống xách phụ đầu đòn, vô tình liếc ra khoảng nước chỗ đèn rọi. Anh ta khựng lại một nhịp. Trên khoảng nước sáng trắng đó, bóng cây cẩu còn nguyên, bóng cuộn cáp còn nguyên. Cái thứ vừa được kéo lên và đặt trên sàn cũng đã hắt xuống nước một vệt đen. Chỉ có bóng của anh ta, đang đứng ngay mép nước và cúi rạp người xuống, là không có. Anh ta nhìn xuống chân mình. Nhìn ra mặt nước. Rồi nhìn lại chân mình.

Tổ trưởng quát một tiếng, hối khiêng vật xuống ghe cho kịp mối, kẻo trời sáng. Anh ta giật mình, xách đòn lên đi. Cái thứ đó được chuyền qua một chiếc ghe máy đậu sẵn dưới mạn. Trên ghe có người chờ, không đèn, không nói nhiều. Tiền trao tay, đếm bằng cọc, gọn lỏn. Ghe rẽ nước đi về phía hạ lưu trong lúc trời còn chưa kịp bạc. Tiếng máy nhỏ dần rồi mất hẳn vào khúc sông quanh.

Tới khi thứ đó đã đi xa, người đàn ông kia mới quay lại ngó mặt nước lần nữa. Lần này thì có bóng. Bóng anh ta đổ xuống khoảng nước sáng, đen, dài, bình thường. Nó nằm yên như chưa từng thiếu đi bao giờ.

Trời gần sáng. Sương xuống. Tổ nạo vét cuốn cáp, tắt bớt đèn. Kẻ nằm võng, người nằm sàn, ai nấy ngủ lấy sức. Không ai nhắc lại chuyện cái thứ nặng trĩu đó. Không ai nhắc tới chuyện cái bóng. Mặt sông Vàm Nao tối lại, rồi đục dần lên theo ánh ngày, chảy đi như nó vẫn chảy mấy ngàn năm nay.

---

Bảy năm sau, đầu mùa khô năm một ngàn chín trăm tám mươi lăm, vào một buổi sáng sông Hậu còn chưa tan hết hơi nước, có một người đàn ông trạc ngoài ba mươi đứng ở bến phà Châu Đốc. Tay anh xách một cái túi vải bộ đội đã bạc màu, mắt nhìn ra mặt sông mà vẫn chưa chịu bước xuống phà.

Người đó là Nguyễn Lê Minh.

Lê Minh là cán bộ của một cơ quan trên Hà Nội phái vào. Anh xuống tận miệt này để kiểm kê di tích, lập danh mục những thứ cũ kỹ mà cấp trên muốn ghi vào sổ. Lăng Thoại Ngọc Hầu dưới chân Núi Sam, mấy cái miếu, mấy nền gạch Óc Eo còn sót ngoài rìa đồng, và những thứ linh tinh khác mà công văn gọi gộp lại là hiện vật có giá trị lịch sử. Lê Minh làm cái nghề đo, đếm, ghi. Cái nghề nhìn một món đồ rồi viết xuống nó là gì, làm bằng gì, có tự bao giờ, còn nguyên hay đã sứt. Người ta chọn anh đi chuyến này vì anh có tính nhớ kỹ, thấy cái gì lệch là để bụng, mà miệng thì ít nói. Lê Minh có thể nhìn một gian thờ rồi nhắm mắt kể lại được trên bàn có mấy món, đặt ra sao, món nào ngay, món nào nghiêng. Cái nghề kiểm kê hợp với người như vậy.

Lê Minh đã đi qua nhiều bến sông ngoài Bắc. Anh đã qua sông Hồng đỏ quạch mùa lũ, qua sông Đuống, sông Cầu. Nhưng đứng trước sông Hậu sáng nay, anh thấy cảnh sông này lạ lẫm. Nó quá ngang. Quá phẳng. Quá rộng. Bờ bên kia xa tới mức cây cối chỉ còn là một vệt xanh mỏng nằm sát mặt nước, không rõ là bờ hay là trời. Mặt nước thì trải ra mênh mông một màu vàng nhạt, lặng tới mức người đứng nhìn lâu đâm hồ nghi, không biết nó có chảy hay không. Ghe xuồng qua lại trên đó nhỏ như mấy con thoi trên một tấm vải dệt dở.

Sông gì mà rộng tới vậy, Lê Minh nghĩ bụng.

Bến phà buổi sáng đông và lao xao. Ghe tam bản chèo qua chèo lại chở khách, chở rau, chở mấy thúng cá còn quẫy. Trên bờ, hàng quán bày la liệt. Người bán bún, kẻ bán xôi, mấy bà ngồi xổm bên rổ trái cây gọi khách bằng cái giọng kéo dài, chữ cuối câu hay đi xuống, nghe vừa thân vừa xa. Người ta nói với nhau "ông", "bà", "tui", khác hẳn cái giọng "anh" với "tôi" mà Lê Minh mang theo từ ngoài kia. Một bà bán cá ngước lên hỏi anh có mua gì không. Lê Minh lắc đầu. Bà quay đi liền, không nài.

Lê Minh đặt cái túi xuống chân, mở ra, lấy trong đó một cuốn sổ tay bìa da đen. Cuốn sổ đã sờn ở bốn góc, sợi dây buộc cũng bạc màu. Anh cầm cuốn sổ trên tay một thoáng, nhìn cái bìa da cũ, rồi cất trở lại vào túi. Lê Minh không mở nó ra. Anh chỉ cần biết nó còn đó.

Rồi anh xốc túi lên vai, hỏi một người dắt xe đạp đường lên ủy ban huyện. Người ấy chỉ tay, nói một tràng. Lê Minh chỉ nghe được hơn một nửa, chắp lại rồi đoán phần còn lại, gật đầu cảm ơn. Anh men theo bờ sông mà đi, bỏ lại sau lưng cái bến phà với con sông rộng.

---

Ủy ban nhân dân huyện Châu Đốc nằm trong một dãy nhà cũ quét vôi vàng đã loang lổ, mái lợp ngói âm dương. Trước sân có một cây me già và mấy chiếc xe đạp dựng nghiêng vào gốc. Lê Minh trình giấy giới thiệu ở phòng thường trực, ngồi đợi trên cái ghế băng gỗ, rồi được dẫn vào gặp người trên huyện cử ra phối hợp với đoàn.

Người đó là Hà Văn Chánh, cán bộ văn hóa của huyện. Ông trạc bốn mươi, mặc sơ mi trắng bỏ trong quần tây xanh, tóc chải ngược ra sau, bóng dầu. Hà Văn Chánh bắt tay Lê Minh, kéo ghế, rót nước, rồi nói luôn. Ông Chánh nói nhiều, nói nhanh. Câu nọ chưa dứt đã bắc qua câu kia. Hễ thấy Lê Minh định hỏi là ông đã trả lời trước cả câu hỏi.

"Mấy chú ngoải vô đây cực hen, đường xa quá trời. Thôi được rồi, để tui lo. Nhà khách tỉnh tui đặt sẵn cho chú một phòng, ngay đường Trần Hưng Đạo, gần sông, mát. Đi lại thì tui kiếm ghe cho, chớ miệt này đường bộ đi hổng tới đâu. Toàn kinh với rạch, phải đi ghe. Chú tính làm bao lâu? Núi Sam gần, lăng Thoại Ngọc Hầu cũng gần. Còn mấy cái nền gạch ngoài đồng thì xa, phải đi ghe cả buổi mới tới lận."

Lê Minh ngồi nghe, thỉnh thoảng gật đầu, ghi vài chữ vào sổ. Anh để ý ông Chánh hay chêm "thôi được" với "hổng có" vào giữa câu. Hễ đụng tới chuyện gì hơi khó nói, ông lại bắc qua chuyện khác cho nhanh.

Ông Chánh đứng dậy, ra cửa ngó ra sân, gọi với một tiếng:

"Sáu ơi Sáu! Vô đây cái coi!"

Một lát sau, một người đàn ông đứng tuổi đi vào. Ông dáng thấp đậm, da sạm nắng, mặc áo bà ba nâu đã ngả màu, miệng ngậm điếu thuốc rê chưa châm. Ông Chánh giới thiệu đó là Bác Sáu Lúa, tay lái ghe rành sông nước nhất vùng này. Đi đâu trong huyện cũng tới, kinh rạch nào cũng thuộc lòng.

Bác Sáu Lúa ngó Lê Minh từ đầu tới chân, cười hề hề, giọng oang oang:

"Chèn ơi, cán bộ trẻ măng vậy ta. Ngoải mới vô hen? Ăn bún cá chưa? Chưa hả? Thôi để tui dắt đi. Miệt này mà hổng ăn bún cá thì coi như chưa tới Châu Đốc nghen chú."

Lê Minh chào, nói vài câu xã giao. Bác Sáu vừa nói vừa lấy giấy quyến ra vấn một điếu thuốc khác. Tay ông xe sợi thuốc thoăn thoắt, miệng vẫn không ngừng. Ông Chánh ngồi xuống, rót thêm nước, rồi nói như nói cho có chuyện:

"À mà chú xuống đây kiểm kê, có khi đụng mấy chuyện ngộ lắm. Hồi năm bảy tám có đợt nạo vét dưới Vàm Nao. Trên cho sà lan xuống móc lòng sông cho thông luồng, kéo lên thiếu gì thứ kỳ cục. Đồ đồng, đồ đá, có cái không biết là cái gì luôn. Mà thôi, chuyện cũ rồi."

Ông Chánh bỏ lửng, với tay lấy cái ấm, rồi bắc qua chuyện nắng mưa mùa khô.

Lê Minh không hỏi thêm. Nhưng anh thấy, ngay lúc ông Chánh buông ra hai chữ "bảy tám", Bác Sáu Lúa đang xe điếu thuốc bỗng ngừng tay một nhịp. Chỉ một nhịp. Đầu ngón tay đang xe sợi thuốc khựng lại, rồi lại xe tiếp, dán mép giấy, đưa lên miệng liếm, như chưa có gì xảy ra. Cái ngừng đó nhanh tới mức người không quen nhìn thì đã không thấy.

Nhưng Lê Minh thấy.

Một lúc sau, Bác Sáu đứng dậy ra cửa ngó trời. Ông đứng đó một chút, không nói gì, đưa mắt liếc về phía sông Hậu sáng lòa ngoài kia. Giọng oang oang bông đùa của ông tự dưng trầm hẳn xuống. Ông nói khẽ, gần như nói với mình, rằng nước năm nay xuống sớm quá. Rồi ông quay lại, lại oang oang, lại cười hề hề, giục Lê Minh đi nhận phòng rồi đi ăn kẻo trưa.

Lê Minh ghi nhớ điều đó trong bụng. Anh không viết ra sổ, cũng không hỏi.

Ông này không phải chỉ là người lái ghe.

---

Bác Sáu Lúa dắt Lê Minh ra khỏi ủy ban, đi bộ ngang qua chợ Châu Đốc. Chợ xế trưa đã bớt đông, nhưng vẫn còn nguyên cái mùi của nó, mùi mắm. Mắm ở đây nồng, đặc, xộc lên từ mấy sạp xếp lu khạp thành hàng. Mắm cá linh, mắm cá lóc, mắm thái, mắm ruốc, đủ thứ mắm mà Lê Minh chưa kịp phân biệt. Bác Sáu vừa đi vừa chỉ trỏ, cái này mắm gì, cái kia mắm gì, ăn với cơm, nấu lẩu hay đem chưng. Ông nói rành rọt như đọc thuộc lòng.

Ông dắt anh ghé một quán bún cá ven bến. Quán nhỏ, có mấy cái bàn gỗ thấp. Sau lưng bà chủ là một nồi nước lèo to đang bốc khói. Bác Sáu kêu hai tô. Một lát sau, bà chủ bưng ra. Tô bún có nước lèo vàng ươm màu nghệ, trên mặt là mấy miếng cá lóc trắng đã gỡ sẵn, ăn kèm một dĩa rau chất đầy bông điên điển vàng với rau muống bào trắng.

Lê Minh nếm thử một muỗng nước lèo. Anh khựng lại. Cái vị này lạ. Nó vàng vì nghệ, ngọt từ cá, nhưng bên dưới còn có một cái nền mằn mặn, nồng nồng, đậm đà mà Lê Minh chưa gọi được tên. Anh gắp một đũa bún, ăn, rồi lại gắp tiếp, lần này mạnh tay hơn.

"Cô cho gì vô mà nước nó vàng và ngọt vậy?" Lê Minh hỏi, miệng còn đang nhai.

Bác Sáu cười khoái chí.

"Mắm ruốc đó chú. Nước lèo bún cá Châu Đốc thiệt thì phải nêm mắm ruốc, với nghệ tươi giã, mới ra cái màu, cái vị đó. Quán nào nêm bột ngọt không là tui nếm biết liền hà."

Lê Minh gật gù, ăn hết tô, rồi húp cạn cả nước. Ngon thiệt, anh nói gọn vậy. Bác Sáu cười, nói cán bộ ăn được vậy là tốt, mai mốt đi ghe lặn lội cả ngày, phải ăn được mới chịu cho nổi.

Ăn xong thì trời đã ngả về chiều. Bác Sáu đưa anh về nhà khách tỉnh trên đường Trần Hưng Đạo. Đó là một dãy nhà cũ nằm sát mé sông. Ông dặn sáng mai sẽ ghé chở anh đi Núi Sam, rồi bắt tay Lê Minh, xuống ghe. Tiếng máy ghe nổ lên, xa dần về phía bến, rồi mất hẳn sau một đám lục bình trôi ngang.

Lê Minh nhận phòng. Phòng nhỏ, có một cái giường, một cái bàn, một cái tủ gỗ. Điện ở đây chập chờn, hễ tối là cúp. Người gác nhà khách đưa anh một cây đèn dầu, dặn cúp điện thì thắp mà xài.

Chập tối, điện cúp thật. Lê Minh thắp ngọn đèn dầu lên, đặt giữa bàn. Ánh sáng vàng vọt loang ra một quầng trên mặt gỗ cũ.

Ngọn đèn dầu, cái thứ tưởng tầm thường nhất trong nhà, kỳ thực lại có một cái lõi mà người đời ít ai để mắt tới. Cái lõi đó là sợi bấc.

Người mình xưa kêu sợi bấc là tim đèn. Nói chữ thì gọi là hỏa đăng tâm, cái tâm của lửa đèn, trái tim của ngọn lửa. Bấc được se bằng sợi bông, xe cho chặt thành một sợi dài. Một đầu thả ngâm trong dầu, một đầu khêu lên khỏi miệng đèn cho bắt lửa mà cháy. Dầu thấm theo bấc mà lên. Lửa ăn dầu mà sáng. Hết đêm này qua đêm khác, cái tim đèn cứ lặng lẽ dẫn dầu nuôi lửa, cháy mòn dần đi mà chẳng mấy ai ngó tới.

Mà tim đèn không phải lúc nào cũng cháy ngay ngắn. Có khi đang cháy, ở chỗ đầu bấc khêu ra lại đọng một cục than nhỏ, đỏ rực, tròn vo như cái nụ. Người mình kêu đó là hoa đèn. Hoa đèn nở ra ở đầu tim đèn, đỏ au, lập lòe, rồi tàn. Người xưa nhìn hoa đèn mà đoán điềm. Có câu lưu truyền trong dân gian, kể ra ba thứ báo trước điều sắp tới: thứ nhất đom đóm vào nhà, thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn. Đèn đang cháy yên mà bỗng kết hoa, ấy là điềm, là dấu nhà sắp có chuyện, hoặc mừng hoặc lo, tùy người mà tin.

Người rành thì nói hoa đèn kết là tại sợi bấc. Bấc se ẩu, bông lẫn tạp, hoặc dầu sắp cạn, thì lửa ăn không đều. Đầu bấc mới đọng than mà kết hoa, mới cháy nghiêng, cháy lệch. Còn bấc se khéo, se chặt tay, sợi bông đều, một mực sạch, thì lửa ăn ngay, thẳng thớm. Ngọn lửa vươn thẳng, cháy suốt đêm mà không đọng lấy một cái hoa.

Bởi vậy mới sinh ra cái nghề se bấc. Ở những bến sông xưa, có người chuyên se bấc đem bán. Bấc cho đèn thường thì se sao cũng được. Riêng bấc cho đèn bàn thờ, đèn cúng, thì phải giữ riêng, se riêng, không cho lẫn với bấc đèn xài hằng ngày. Vì đèn cúng là ngọn đèn thưa với người đã khuất, không thể để cái tim đèn đọng hoa lập lòe trước mặt ông bà.

Tục còn kể, ngay tại một cái bến trong vùng này, hồi xửa hồi xưa, có một bà cụ chuyên se bấc thuê. Bà cụ se bấc bằng tay trái. Người ta đồn bấc bà se không bao giờ đọng hoa đèn. Thắp suốt đêm, suốt năm canh, ngọn lửa vẫn cứ một mực thẳng thớm, đầu bấc sạch trơn, chẳng kết lấy một cái nụ than nào. Lạ ở chỗ, người trong vùng không phải ai cũng dám tới đặt bấc của bà cụ. Người ta đồn, nhà nào tới đặt bấc bà se, là nhà đó hoặc sắp có tang, hoặc sắp có chuyện hệ trọng tới nơi. Bởi cái lẽ, bấc bà se là bấc không bao giờ báo điềm. Mà nhà nào đã phải đi tìm một ngọn đèn không báo điềm, thì cái điềm, nó đã nằm sẵn trong nhà người ta rồi.

Cho nên ở đời, cái ngọn đèn dầu leo lét trên bàn, nó không phải chỉ là ngọn đèn. Cái lõi của nó, cái tim của nó, từng được người đời coi là một thứ dùng để tiên đoán. Tiên đoán nhưng không nói ra. Cháy lặng lẽ, đỏ lặng lẽ, kết hoa lặng lẽ, để mặc người ta tự hiểu lấy.

Lê Minh kéo ghế ngồi xuống bàn, mở túi lấy hồ sơ kiểm kê ra soạn cho buổi sáng mai.

---

Đêm xuống hẳn. Nhà khách yên ắng. Ngoài kia chỉ còn tiếng sông Hậu chảy đều đều, thỉnh thoảng chen vào một tiếng máy ghe đi khuya. Lê Minh ngồi dưới ngọn đèn dầu, trải mấy tờ giấy ra bàn, tay cầm cây bút máy, ghi danh mục những điểm sẽ tới khảo sát ngày mai.

Anh viết được một lúc thì dừng tay, vì có cái gì đó không đúng.

Lúc đầu, Lê Minh không biết cái không đúng đó nằm ở đâu. Anh chỉ thấy gờn gợn, giống như khi đếm một chồng đồ mà trong bụng đã biết thiếu mất một món, dù chưa kịp đếm ra. Lê Minh ngẩng lên nhìn quanh phòng. Ngọn đèn vẫn cháy yên. Ánh vàng loang trên mặt bàn, trên vách. Mọi thứ đều đổ bóng đầy đủ. Cái bàn đổ bóng xuống nền gạch, thành một khối tối kéo dài về phía vách. Cái ghế đổ bóng. Cây bút máy anh vừa đặt xuống cũng đổ một vệt bóng nhỏ. Cuốn sổ, cái ấm, cái ly, tất cả đều có bóng. Những cái bóng đen, rõ, nằm yên trên nền.

Lê Minh đưa tay lên, định gãi cổ.

Bàn tay anh không đổ bóng.

Lê Minh dừng lại. Anh đưa bàn tay qua lại ngay trước ngọn đèn, thật chậm, mắt nhìn xuống mặt bàn. Bóng cái ly bên cạnh nhòe đi rồi rõ lại theo ngọn lửa lay, bình thường. Bàn tay anh đưa qua đưa lại ngay trong luồng sáng, nhưng trên mặt bàn không có lấy một vệt tối nào của bàn tay đó.

Lê Minh đứng dậy.

Anh làm cái việc anh quen làm với mọi món đồ khả nghi: anh kiểm tra. Lê Minh dời cây đèn ra mép bàn, đứng vào khoảng trống giữa đèn và vách tường, rồi cúi nhìn xuống nền. Bóng cái bàn nằm đó. Bóng cái ghế nằm đó. Chỗ lẽ ra phải có một cái bóng người cao lớn đổ dài lên vách thì lại trống trơn. Vách vàng ánh đèn, phẳng lì, không một vệt gợn bóng.

Lê Minh đổi chỗ. Anh ngồi xuống, đứng lên, bước qua bước lại trong phòng. Lần nào anh cũng canh cho thân mình chắn ngay luồng đèn. Lần nào cũng vậy. Cái bàn có bóng. Cái ghế có bóng. Cây đèn hắt cái bóng tròn méo của chân đế nó ra trên mặt bàn. Chỉ riêng Lê Minh, đứng sờ sờ giữa phòng dưới ánh đèn, là không hắt xuống một cái bóng nào.

Lê Minh cúi sát ngọn đèn, nhìn cái tim đèn đang cháy. Tim đèn cháy đều. Ngọn lửa vàng thon, thẳng thớm. Đầu bấc sạch trơn, không đọng lấy một cái hoa than nào. Dầu trong bầu vẫn còn quá nửa. Ngọn lửa không lay, không chao, cháy ngay ngắn.

Lê Minh đứng thẳng người lại. Trong phòng yên lặng tới mức anh nghe rõ tiếng tim mình đập trong lồng ngực. Anh không biết phải gọi điều mình vừa thấy là gì. Lê Minh là người kiểm kê. Anh ghi những cái mình thấy và hiểu. Còn cái này anh không hiểu. Trong đầu anh chỉ có một ý nghĩ:

Mọi vật trong phòng đều có bóng. Chỉ mình là không có.

Lê Minh ngồi xuống bàn lần nữa. Anh nhìn tờ giấy ghi dở, nhìn cây bút còn mở nắp. Anh định viết. Tay anh cầm bút lên. Rồi Lê Minh đặt bút xuống, đậy nắp lại.

Anh với tay vặn nhỏ tim đèn, rồi thổi tắt. Phòng tối sập xuống. Mùi khói dầu khét nhẹ loang ra trong bóng tối.

Lê Minh nằm xuống giường, kéo cái chăn mỏng lên ngang ngực. Ngoài kia, sông Hậu vẫn chảy đều. Cái tiếng nước mơ hồ vọng vào qua khe cửa. Anh nhắm mắt, hít sâu một cái. Rồi Lê Minh mở mắt ra, nằm thao láo nhìn lên trần nhà tối đen, hai tay đặt trên bụng, không ngủ.

Cái vật nặng kéo lên từ đáy Vàm Nao năm bảy tám, nhịp ngừng tay vấn thuốc của Bác Sáu, con sông quá phẳng quá lặng, và một ngọn đèn cháy ngay ngắn nhưng không hắt bóng người. Bấy nhiêu thứ rời rạc ấy, đêm nay vẫn còn nằm rời rạc trong đầu một người kiểm kê di tích. Chúng nối lại với nhau bằng cách nào, chuyện phải kể ở hồi sau.